Thí nghiệm so sánh độ sinh trưởng của Giun quế với các loài giun khác

631

Một thí nghiệm so sánh độ sinh trưởng của Giun quế (P. Excavatus) với 2 loài giun phổ biến khác. Kết quả cho thấy Giun quế vượt trội hơn rất nhiều so về hầu hết các khía cạnh.

Vật liệu và Phương pháp

Nghiên cứu này được thực hiện bằng cách sử dụng giá thể trưởng thành của 3 loài D. nepalensis, M. houlleti và P. exacavatus để nghiên cứu, nuôi cấy trong phòng thí nghiệm ở nhiệt độ 20 oC – 25 oC. Giun được giữ trong đất có độ pH 7 và độ ẩm 70-80% được duy trì bằng cách tưới nước thường xuyên.

Giun được cho ăn bằng phân bò và lát gỗ sồi mỗi 15 ngày. Các kén được ủ trong các đĩa Petri sử dụng phân bò và mùn cưa tốt làm chất nền để duy trì các con ấp trứng và sâu đang phát triển.

Để nghiên cứu vòng đời, các mẫu mới nở được thu thập và đặt trong chậu đơn và theo lô năm lớp và được bao phủ bởi lưới nhựa (1mm). Phân chuồng và vụn gỗ được thêm vào mỗi bình chứa thường xuyên cho đến khi hoàn thành nghiên cứu này.

Giun được cân thường xuyên và mỗi lần cân, giun được kiểm tra để xác định mức độ trưởng thành cũng như xác định sự phát triển của đai sinh sản. Để xác định sự khởi đầu của quá trình sản xuất kén, các chất nền được kiểm tra dưới kính lúp, ngay khi những đai sinh sản được quan sát thấy trong các chất nền. Các kén được đếm, rửa nhẹ nhàng trong nước cất và sau đó ủ lại trong đĩa Petri và nuôi bằng mùn cưa và phân bò. Những con kén được quan sát sau mỗi 24 giờ và những con ấu trùng đã được loại bỏ hàng ngày.

Kết luận về Giun quế

Tốc độ tăng trưởng và thời kỳ trưởng thành của D. nepalensis, M. houlleti và P. excavatus (Giun quế) như sau:

Loài Số liệu
Sinh sản Tỉ lệ phát triển (mg/worm /day) Phát triển đai sinh sản (theo ngày) Trọng lượng (mg) Thời gian phát triển kén (ngày) Tỉ lệ phát triển kén (Số kén/giun/ngày) Tỉ trọng kén (mg) Thời gian nở (ngày) Tỉ lệ đai sinh sản (%)
D. nepalensis Sinh sản và Trinh sản 3.52 ± 0.07 26 ± 5.1 528 ± 24.3 37 ± 5.2 0.7 ± 0.01 0.25 ± 0.01 30 ± 2.5 100
M. houlleti Trinh sản 4.23 ± 0.85 51 ± 6.2 635 ± 32.6 70 ± 6.4 0.04 ± 0.002 0.32 ± 0.03 35 ± 5.2 100
P. excavatus Sinh sản 4.51 ± 0.92 18 ± 3.4 677 ± 35.8 24 ± 1.6 1.1 ± 0.05 0.29 ± 0.02 18.7 ± 1.8 88.6 ± 42.5

 

(Chú thích: Trinh sản là hình thức tự sinh sản của loài giun)

Có thể thấy, Giun quế (P. excavatus) có tỉ lệ phát triển cao nhất, thời gian xuất hiện đai sinh sản sớm nhất, trọng lượng cao nhất, thời gian phát triển kén ngắn nhất, tỉ lệ phát triển kén cao nhất, tỉ trọng kén cao thứ 2 và thời gian kén nở sớm nhất.

Qua thí nghiệm, các nhà khoa học nhận định rằng:

“Giun quế là loài giun thích hợp nhất để xử lý phân bón nông nghiệp”.

Đặng Long (Theo Life Science Journal)

VIỆN NÔNG NGHIỆP HỮU CƠ TƯ VẤN MIỄN PHÍ VỀ KỸ THUẬT NUÔI GIUN QUẾ
SĐT: 0986.04.6612  hoặc 024. 66885923

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here