Nông nghiệp hữu cơ không chỉ dành cho người giàu

262

Đó là thông điệp của Thủ tướng tại Hội nghị về Nông nghiệp hữu cơ (NNHC) gần đây. Để hiểu hơn về thông điệp của Thủ tướng qua góc nhìn “nông nghiệp hữu cơ”, chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Nguyễn Văn Cường – Viện trưởng Viện Nghiên cứu và ứng dụng Nông nghiệp hữu cơ, về vấn đề này. Dưới đây là những chia sẻ của ông.

Bài đăng trên tạp chí điện tử hòa nhập

 

Mới đây Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã có phát biểu tại một hội thảo nói rằng “NNHC không chỉ dành cho người giàu”. Thực tiễn thì từ lâu nay chúng ta cứ nghĩ rằng NNHC chỉ dành cho tầng lớp thượng lưu, trung lưu trở lên. Bởi vì sao? Vì thực phẩm hữu cơ thường rất đắt đỏ. Mà thực tiễn thì các nước trên thế giới dù đã phát triển NNHC hàng nhiều chục năm nhưng vẫn chỉ có hơn 1% diện tích nông nghiệp trên thế giới là được áp dụng nông nghiệp hữu cơ. Điều này làm cho người ta nghĩ rằng NNHC là một cái gì đó xa xỉ, rất cao sang và những người nông dân bình thường không thể với tới.

làm việc với xã Thuỵ Hương, Chương Mỹ
Đoàn Công tác Viện Nông nghiệp hữu cơ làm việc với lãnh đạo xã Thụy Hương, Chương Mỹ về việc xây dựng mô hình vườn rau hữu cơ

 

Cái giá của cuộc Cách Mạng Xanh…

Thực tiễn thì trước khi có cuộc Cách Mạng Xanh thì người nông dân Việt Nam cũng đã sử dụng những phương pháp canh tác truyền thống có hướng đến nông nghiệp hữu cơ. Ta sẽ thấy những phong trào như ủ phân hữu cơ từ bèo hoa dâu, từ rất nhiều những sản phẩm khác. Đấy là sự manh nha ban đầu của NNHC và nó cũng xảy ra trong thời kỳ thiếu thốn, giao thương giữa Việt Nam và thế giới hạn chế. Cái khó ló cái khôn, người dân Việt Nam đã áp dụng phương pháp hữu cơ để canh tác.

Tôi tiếp xúc với một số chuyên gia nước ngoài và họ nói rằng người Việt Nam rất giỏi trong việc làm nông nghiệp hữu cơ. Nhưng tại sao câu chuyện NNHC bây giờ mới được nhắc đến? Bởi, có một quá trình dài chúng ta đã bị thiếu lương thực, chúng ta rơi vào tình cảnh không có đủ lương thực cho người dân. Cuộc Cách Mạng Xanh là cuộc cách mạng trong nông nghiệp tăng năng suất, sử dụng các sản phẩm giống mới, sử dụng phân bón hóa học và các phương pháp canh tác hiện giờ, nó đẩy năng suất lên vượt bậc. Chúng ta đang từ một đất nước thiếu đói bỗng vượt lên trở thành một trong những nước xuất khẩu nhiều gạo nhất thế giới. Nhưng hệ lụy của cuộc Cách Mạng Xanh chúng ta đã nhìn thấy rõ. Vì lạm dụng hóa chất trong nông nghiệp nên nông sản có thể nhiều nhưng sử dụng lại có hại. Hiện giờ, đâu đâu người ta cũng nghe thấy những câu nói về chống thực phẩm bẩn, câu chuyện về thực phẩm không an toàn, đó là một hệ lụy.

Chính vì điều đó, khiến người ta tìm đến với NNHC như một sự cứu rỗi”. Lúc này đây, dưới sự khởi xướng của rất nhiều các nhà khoa học, những nông dân và cả những trí thức về làm nông nghiệp. NNHC đã trở thành một trào lưu, tiến đến một quyết sách của Chính phủ.


Ông Nguyễn Văn Cường đi xe xúc lật vượt qua lũ để đến thăm mô hình nuôi cá chình tại Mộc Châu, Sơn La.
… và sự thức tỉnh trong nông nghiệp

Tôi đánh giá cao định hướng coi nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp công nghệ cao trở thành mũi nhọn trong nông nghiệp của Chính phủ. Tôi cho rằng phát biểu của Thủ tướng hoàn toàn có cơ sở: NNHC không chỉ dành cho người giàu. Nếu nói ở đất nước phát triển hoặc đất nước ôn đới thì điều này là khó khăn. Như tôi vừa nói, ở nước ngoài họ phát triển NNHC đã lâu rồi nhưng chỉ có một số đất nước có thể làm được với diện tích canh tác hữu cơ lớn như Australia có 22,7 triệu ha (chiếm 30% tổng diện tích đất nông nghiệp), Argentina (3,1 triệu ha), Mỹ (2,0 triệu ha), nhưng tổng lại trên thế giới chỉ có hơn 1% là đất đai được canh tác theo phương pháp nông nghiệp hữu cơ.

Khó khăn như vậy, Việt Nam có thực hiện được không? Tôi nghĩ là được vì thực tiễn Việt Nam có một điều kiện khí hậu, đa dạng sinh học và nguồn nhân lực có thể đáp ứng được. Khí hậu là một điều kiện cơ bản. Khí hậu tạo ra đa dạng sinh học và một điều kiện cơ bản ban đầu để khởi phát một nền nông nghiệp hữu cơ. Việt Nam là một trong 20 quốc gia đứng đầu về đa dạng sinh học. Việc Việt Nam đứng đầu đa dạng sinh học là cơ sở để phát triển một nền nông nghiệp hữu cơ, một nền nông nghiệp sinh thái. Vì sao? Vì bản thân trong khí hậu và môi trường thổ nhưỡng xung quanh đã có chứa những vi sinh có lợi và vi sinh có hại, đối kháng cân bằng. Tự thiên nhiên đã cân bằng trong môi trường đa dạng sinh học. Đó là điều kiện ban đầu để phát triển nông nghiệp hữu cơ.

Điều thứ hai là nhân công. Vì sao mà ở các nước phát triển họ khó phát triển được nông nghiệp hữu cơ? Bởi nhân công của họ rất đắt đỏ. Họ phải tuyển dụng nhân công từ nước ngoài sang, trong đó có Việt Nam xuất khẩu lao động. Trong khi đó, dân cư Việt Nam, những người làm nông nghiệp lại phân bố khá đều và khá nhiều ở khu vực nông thôn. Nhân công của chúng ta hiện tại đang rẻ, thấp.

Ba điều kiện này được hội tụ ở Việt Nam là những điều kiện rất cơ bản để nói rằng câu nói của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc có cơ sở.

Mặt khác, nhìn vào thực tế, làm NNHC so với việc đầu tư nhà lưới nhà kính trên diện tích lớn suất đầu tư thấp. Quá trình sản xuất NNHC vốn là một “vòng tròn khép kín năng lượng”, đầu ra của loài này là đầu vào của loài khác, năng lượng được bảo toàn ở trong trang trại mà không bị thất thoát, không gây ra ô nhiễm môi trường. Tôi nói ví dụ một trang trại bò có thể ứng dụng để nuôi giun và từ giun có thể sử dụng vào hai mục đích: một là phân giun cho trồng trọt. Phân giun được các nhà khoa học đánh giá rất cao, bởi vì hàm lượng humix tương đối cao để thúc đẩy cây phát triển tăng trưởng. Bản thân con giun cũng có hàm lượng đạm rất lớn. Với loại giun tinh khô, hàm lượng đạm chiếm tới 60-70%. Chúng tôi gọi đây là liều thuốc tăng trọng tự nhiên dành cho các vật nuôi. Như vậy, chúng ta thấy trong chăn nuôi, trồng trọt hữu cơ không cái gì bỏ đi, không cái gì gây ô nhiễm môi trường.

Chính cái việc tiết kiệm như vậy đã làm cho đầu vào của sản xuất giảm đi, tiết kiệm chi phí. Như vậy tôi có thể nói sản xuất NNHC không hề đắt. Nếu chúng ta có một nghiên cứu đầy đủ và khoa học, áp dụng các nguyên lý của tự nhiên, loài này là tương sinh, tương khắc với loài kia, chúng ta sẽ tận dụng được mối quan hệ dinh dưỡng, đồng thời sẽ giảm đi chi phí thuốc trừ sâu vô cơ, giảm đi chi phí phân bón hóa học thụ động từ phía ngoài. Do vậy sản xuất NNHC không hề đắt.

Nhưng tại sao sản phẩm NNHC vẫn đắt đỏ?

Nhưng tại sao những sản phẩm NNHC trên thế giới vẫn đắt, mà ngay cả ở Việt Nam cũng đắt?

Trước hết, NNHC phụ thuộc rất nhiều vào thời vụ và thời tiết quá nhiều. Khi vào mùa thì rất rẻ, trái mùa thì không có. NNHC còn có thể bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh vì không sử dụng vacxin, thuốc trừ sâu hóa học mà vật nuôi, cây trồng đều phải thích nghi với tự nhiên.

Bên cạnh đó, tôi cho rằng, chúng ta bị ảnh hưởng bởi tư tưởng làm hữu cơ khó khăn của thế giới mà thành đắt đỏ.

Mặt khác, sản xuất hữu cơ có thể rẻ nhưng chi phí chứng minh hữu cơ thì lớn. Trước khi, chứng nhận hữu cơ, đất đai, nguồn nước phải được xét nghiệm các chỉ số. Đi sau nó là một hệ thống chứng minh rằng đấy là sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Mà chi phí cho việc chứng minh đó là rất khó khăn, cả trên thế giới cũng vậy. Người ta tốn rất nhiều chi phí để chứng minh. Mỗi một sản phẩm được gọi là hữu cơ đều phải giám sát độc lập. Và phải có đơn vị tư vấn để làm đúng theo định hướng hữu cơ. Ngoài ra, còn có thanh tra, kiểm tra, kiểm định… Chưa kể chi phí chờ đợi ít nhất 2 năm mới được chứng nhận hữu cơ.

Quan điểm của tôi cho rằng, nếu làm được một nền NNHC đầy đủ, chính xác và theo đúng định hướng sẽ làm thay đổi diện mạo nông nghiệp Việt Nam. Không chỉ thay đổi diện mạo nông nghiệp mà còn thay đổi cả những vấn đề xã hội khác. Bởi NNHC không chỉ là câu chuyện con cá lá rau, chuyện thực phẩm sạch, chuyện thực phẩm bẩn, mà đây còn là một triết học. Bởi NNHC dựa trên nguyên lý là thuận theo tự nhiên, mà tự nhiên vốn sinh ra đã có âm có dương, có tương sinh tương khắc, có quy luật hữu cơ lẫn nhau, có mỗi quan hệ nhân quả trong cuộc sống. Nếu như con người ta đi theo được con đường NNHC thì có rất nhiều vấn đề thay đổi từ nhận thức. Người ta sẽ cảm thấy cuộc sống cần phải cân bằng hơn vì bản thân tự nhiên đã tự cân bằng thì con người tại sao lại phá vỡ sự cân bằng đó?

Làm NNHC sẽ phải bắt đầu từ đâu?

Đây là câu hỏi khó với nhiều người mới bước vào nông nghiệp hữu cơ. Tuy nhiên, khi chúng tôi bắt đầu làm NNHC thì chúng tôi nhìn thấy có nhiều đơn vị cũng làm nhưng mỗi người làm một góc. Nó không ra được một bản đồ tổng thể và thiếu hẳn sự liên kết lẫn nhau. Chúng tôi mong muốn kết nối tất cả những người làm NNHC thực sự lại với nhau và sẽ ra một cộng đồng những người sản xuất hữu cơ thật và những người tiêu dùng hữu cơ thật. Viện lúc đấy là một đơn vị độc lập, tư vấn cho những đơn vị sản xuất, truyền thông cho người dùng hiểu về sản phẩm hữu cơ, giúp người nông dân sản xuất hữu cơ nhưng giá rẻ, hiệu quả. Chúng tôi rất mong các nhà khoa học và những nhà nông đã làm NNHC cùng phối hợp với chúng tôi để thực hiện mong muốn đó.

Việc thứ hai, chúng tôi cũng xây dựng một hệ thống các vườn dược liệu trên khắp cả nước hướng sản xuất dược liệu đến chuẩn hữu cơ.

Đặc biệt, năm 2018, chúng tôi tiến ra Trường Sa, dự án đưa rau hữu cơ ra Trường Sa. Việc này chúng tôi đã làm việc với Bộ Tư lệnh Hải quân xong về kế hoạch sẽ thực hiện năm 2018.

Ngoài ra, chúng tôi còn có nhiều dự án khác như bảo vệ các nguồn gen bản địa để xây dựng một hệ thống giống bản địa; phát triển mạng lưới người nuôi giun trên toàn quốc. Đó là một trong những chỉ dấu, nguyên liệu để làm nông nghiệp hữu cơ.

Đây là những sơ lược ban đầu chúng tôi làm và chúng tôi rất mong các đơn vị, cá nhân cùng tham gia trên một chuỗi sản phẩm nông nghiệp hữu cơ. Viện sẵn sàng chia sẻ những kiến thức, kinh nghiệm, quan điểm, lợi thế để làm sao cho cộng đồng sản xuất và tiêu dùng hữu cơ ngày càng phát triển.

 

An Nhiên (ghi)

 

BÌNH LUẬN

Please enter your comment!
Please enter your name here